Nghi lễ cưới

Nghi thức đám cưới cơ bản của người miền Nam
 
Đám cưới Việt Nam bao gồm những nghi lễ mang đậm văn hóa truyền thống của dân tộc, tuy nhiên ở mỗi vùng miền, những nghi lễ ấy lại có một nét đặc trưng riêng. Ở miền Nam, nơi mà người dân có tính cách phóng khoáng thì các nghi lễ đám cưới được thực hiện có phần thoải mái và nhẹ nhàng hơn, nhưng vẫn đảm bảo sự trang trọng và thiêng liêng.
 
 Lễ cưới tại miền Nam vẫn được thực hiện với đầy đủ các nghi thức là dạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu. Tuy nhiên, khác với phong tục miền Bắc, trong miền Nam, nếu hai gia đình ở cách xa nhau thì có thể bỏ qua lễ dạm ngõ, tiến hành chung lễ ăn hỏi và đón dâu trong cùng một ngày. Khi đó, lễ vật ăn hỏi và lễ vật cúng tổ tiên khi đón dâu cũng sẽ được gộp chung lại.
 
Hôn lễ được cử hành ngay tại gia đình, trong một không gian nghiêm trang và sạch sẽ. Thông thường các nghi lễ sẽ được thực hiện tại 
 
bàn thờ tổ tiên. Họ hàng nhà trai đến, có người làm mai đi đầu, có một vị trưởng tộc, chú rể bưng khay trầu có đôi đèn, chú rể phụ bưng khay rượu, đi cùng là ông ba cha mẹ họ nhà trai đi chẵn đôi, nam nữ bưng lễ vật là bốn hoặc sáu người. Quả vật mang đến nhà gái ngoài trái cây, bánh kẹo, phải có trầu cau, có cặp đèn (nến) thật to, trùng với kích thước của đôi chân đèn trên bàn thờ nhà gái.
Trưởng tộc nhà trai sẽ xin phép nhà gái cho nhập gia trình lễ cưới, khi được nhà gái đồng ý thì họ nhà trai lần lượt đi vào và chính thức thực hiện các nghi lễ và trình lễ vật cưới. Họ nhà trai sẽ kính cẩn mời nhà gái uống trà, uống rượu, mời ăn trầu, hai bên bàn bạc và thống nhất với nhau về hôn nhân của cô dâu, chú rể và thực hiện nghi thức tặng nữ trang cho cô dâu.
 
 
Hôn lễ được cử hành ngay tại gia đình, trong một không gian nghiêm trang
 
Nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất trong đám cưới miền Nam đó là lễ lên đèn. Đây là một nghi lễ không thể thiếu trong lễ cưới, đó là một lời tuyên bố chính thức, một sự gắn kết bền chặt giữa cô dâu và chú rể trong suốt cuộc đời. Hai ngọn nến to do họ nhà trai mang tới sẽ được đặt trang nghiêm trên bàn thờ tổ tiên nhà gái. Trưởng tộc họ nhà gái tuyên bố: “Xin làm lễ lên đèn”, cô dâu chú rể tự tay đốt nến từ ngọn lửa của đèn trứng vịt nhỏ trên bàn thờ (hiểu là lửa hương hỏa). Trưởng tộc khui một chai rượu trong số lễ vật mà nhà trai đem đến và đứng phía trước chính giữa bàn thờ, cô dâu chú rể đứng hai bên, im lặng. Sau đó cô dâu chú rể cắm đèn vào chân đèn. Hai ngọn đèn cháy từ từ, đặt sát nhau vì người làm lễ đang áp vào hai tay, như khấn vái. Sau đó người trưởng tộc sẽ đưa đèn cho hai người trợ lý cắm vào chân đèn. Hai ngọn đèn phải cháy từ từ và đều nhau, nếu cháy lệch nhau thì người ta cho rằng, sau này cô dâu sẽ “ăn hiếp” chồng.
Sau đó là lễ rước dâu về nhà trai. Khi hai họ đã có mặt đầy đủ ở tư gia họ nhà trai thì chú rể phụ sẽ rót rượu cho trưởng tộc họ nhà trai tuyên bố và làm lễ thành hôn. Cô dâu chú rể lần lượt thực hiện các lễ nghi, đầu tiên là lễ “ông bà quá vãng” – cùng làm lễ trước bàn thờ, tiếp theo là lễ bái họ tộc, rót rượu mời họ tộc, ông bà nội ngoại hai bên, lễ bái song thân - cô dâu chú rể cùng dâng rượu cho cha mẹ, cuối cùng là lễ anh em, bạn bè quan khách đến tặng quà và chúc mừng cô dâu chú rể. Sau đó trưởng tộc tuyên bố kết thúc buổi lễ thành hôn.
 
  
Ngoài việc tổ chức đám cưới tại gia đình, các bạn trẻ còn tổ chức tiệc cưới ở nhà hàng

Hiện nay, ngoài việc tổ chức đám cưới tại gia đình, các bạn trẻ còn tổ chức lễ cưới ở nhà hàng. Nghi lễ tùy theo yêu cầu của cô dâu, chú rể hay tại mỗi nhà hàng có chút khác biệt, nhưng thường là: MC mời cô dâu chú rể, cha mẹ hai bên lên sân khấu, sau đó đại diện nhà trai / nhà gái có lời phát biểu chúc mừng, gửi gắm mong muốn đôi trẻ mãi mãi hạnh phúc. Tiếp theo cô dâu chú rể dâng rượu cha mẹ hai bên, rồi uống rượu giao bôi. Sau đó, đôi tân lang, tân nương cắt bánh cưới và đi chào bàn quan khách.

Lễ cưới luôn là một lễ đặc biệt trong mọi gia đình Việt Nam, tuy không có sử sách nào ghi lại những nghi lễ này nhưng bằng hình thức truyền miệng, các nghi lễ truyền thống vẫn được giữ gìn và phát huy cho đến ngày nay. Lễ cưới còn thể hiện những nét tinh túy, nét đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam.

Quy trình tổ chức một đám cưới ở miền Bắc
 
Đám cưới được xem là việc trọng đại của đời người nên việc cưới xin không chỉ được xem ngày kỹ lưỡng mà việc chuẩn bị và tiến hành cũng có những quy định khá nghiêm ngặt và mang tính truyền thống đã được duy trì từ lâu đời nay. 
 
Theo thời gian, sự tiến bộ của xã hội đã kéo theo sự thay đổi của các nghi thức tổ chức mộtđám cưới. Tuy vậy, ở miền Bắc, dù thay đổi nhưng vẫn giữ 3 lễ cơ bản: Dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ đón dâu (lễ cưới).
 
Lễ Dạm ngõ (chạm ngõ)

Lễ dạm ngõ là nghi lễ khởi đầu cho một loạt các nghi thức hôn nhân sau đó nên đây là nghi lễ quan trọng không thể bỏ qua trong các đám cưới truyền thống của người miền Bắc. Vì vậy, trước khi làm lễ chạm ngõ, nhà trai cũng phải chọn ngày đẹp để đến gặp gia đình nhà gái để “vạn sự khởi đầu nan” suôn sẻ thì mọi việc tiếp theo mới trọn vẹn. Đây là lễ gặp mặt đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai, nhà gái và được xem là thủ tục cần thiết để “người lớn” thưa chuyện với nhau. Lễ vật trong ngày dạm ngõ đơn giản chỉ gồm chục trầu cau, chè, thuốc và bánh kẹo với số lượng chẵn. 


Trầu cau là lễ vật không thể thiếu trong cưới hỏi
Thành phần tham dự trong ngày lễ dạm ngõ chỉ trong nội bộ gia đình 2 họ: cô dâu, chú rể, bố mẹ và anh chị em ruột của cô dâu chú rể.
Việc đón tiếp nhà trai cũng đơn giản và thân thiện. Nhà gái chuẩn bị sẵn nước trà, thuốc, bánh kẹo, trái cây… mời khách. Sau khi nhà trai trao lễ, nhà gái mang lên bàn thờ gia tiên thắp hương. Hai nhà nói chuyện để bàn chuyện xem ngày, chọn ngày và các thủ tục khác cho lễ ăn hỏi và lễ cưới.

Sau lễ chạm ngõ, người con gái được xem như có nơi có chốn, bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân.
 
Lễ Ăn hỏi

Sau lễ chạm ngõ là đến lễ ăn hỏi. Đây là sự thông báo chính thức về việc hứa gả con cái giữa hai họ.
Trong lễ ăn hỏi, các thủ tục: ăn hỏi, xin cưới và nạp tài được gộp luôn trong ngày này. Nhà trai sẽ mang tới nhà gái 30 chục trầu và tráp ăn hỏi. Sau khi bố chú rể, bố cô dâu giới thiệu những người tham dự, mẹ chú rể sẽ lần lượt đưa 30 chục trầu. Chục trầu đầu tiên là cho nghi thức ăn hỏi, chục trầu tiếp theo cho nghi thức xin cưới và chục trầu thứ 3 là cho lễ nạp tài. Sau khi nhà gái nhận chục trầu thứ 3 thì sẽ đến lễ nhận các tráp ăn hỏi của nhà trai.
Tráp ăn hỏi có thể gồm 5, 7, 9 hoặc 11 tráp nhưng phải là số lẻ và lễ vật trong các tráp phải là bội số của 2. Đồ lễ ăn hỏi không thể thiếu là bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá... và có thêm xôi, lợn quay.


Lễ ăn hỏi là sự thông báo chính thức về việc hứa gả con cái giữa hai họ
Đồ lễ ăn hỏi được nhà gái lấy một ít và trầu cau mang lên thắp hương trên bàn thờ tổ tiên. Ngoài ra, nhà gái giữ lại thường là 2 phần và đưa trả lại nhà trai 1 phần. Đồ lễ nhà gái giữ lại được dùng để mời cưới. Điều đặc biệt cần lưu ý trong lễ ăn hỏi là nhà trai phải chuẩn bị 3 phong bì đựng tiền (gọi là lễ đen), một phong bì dành cho nhà nội cô dâu, một phong bì dành cho nhà ngoại cô dâu và phong bì còn lại để thắp hương trên bàn thờ nhà cô dâu. Số tiền tùy thuộc vào nhà gái.
Cuối cùng, cô dâu và chú rể ra mắt hai họ, rót nước, mời trầu các vị quan khách.
Thời gian ăn hỏi và lễ cưới cách nhau 3 ngày, 1 tuần, hay lâu hơn tùy vào việc lựa chọn ngày đẹp của hai bên gia đình.
Lễ cưới
Nếu hai gia đình không tổ chức tiệc chung tại khách sạn thì việc mời khách tới ăn uống, chúc mừng gia đình hai bên cô dâu chú rể thường diễn ra một ngày trước lễ cưới. Tiệc tại 2 bên gia đình thường là tiệc mặn. Nhiều nơi ở miền Bắc, chú rể phải có mặt trong ngày nhà gái mời khách. Một số gia đình, theo quan niệm và cẩn thận, tùy theo tuổi cô dâu tổ chúc đón dâu 2 lần. Vào ngày ăn hỏi, có thêm thủ tục xin dâu, cô dâu theo nhà trai về nhà và ở lại. Tới sáng sớm hôm sau thì tự ra về, không để ai biết và không ai nói gì. Như vậy là coi như đã qua một lần xuất giá.
 
Trong ngày giờ đẹp đã được chọn sẵn, chú rể sẽ cùng bố và đại diện nhà trai tới nhà gái để đón cô dâu về nhà
 
Trong ngày giờ đẹp đã được chọn sẵn, chú rể sẽ cùng bố và đại diện nhà trai tới nhà gái, mang theo xe hoa, hoa cưới để đón cô dâu về nhà. Cô dâu sẽ được trang điểm, mặc váy cướivà chú rể mặcvest. Nhà trai và nhà gái giới thiệu thành phần tham dự, rồi nhà trai trao trầu xin dâu cho nhà gái, xin phép cho chú rể lên phòng đón cô dâu. Cô dâu chú rể làm lễ gia tiên tại nhà gái. Sau cùng nhà trai xin phép được đưa cô dâu mới về nhà chồng. Đại diện nhà gái cũng phát biểu đồng ý cho nhà trai đón cô dâu. Khi cô dâu về nhà chồng, lễ gia tiên cũng được thực hiện ở nhà trai. Sau đó, lễ cưới sẽ được tổ chức tại nhà trai với các bài phát biểu của hai bên đại diện gia đình, trao quà và tiệc mặn hoặc  ngọt cùng các chương trình biểu diễn văn nghệ góp vui.
 

Cô dâu chú rể cùng thắp hương trên bàn thờ gia tiên
Ngoài ra, sau lễ cưới, cô dâu chú rể phải thực hiện lễ lại mặt. Thời gian đôi vợ chồng mới cưới về lại mặt nhà gái thường là ngay sau ngày cưới. Tuy nhiên, thời gian này còn tùy thuộc vào điều kiện công việc của cô dâu chú rể và khoảng cách địa lý giữa hai nhà. Thông thường, cô dâu chú rể về nhà ngoại tiến hành nghi lễ này vào buổi sáng. Đồ lễ gia đình nhà trai chuẩn bị là gà trống và gạo nếp hoặc đơn giản hơn là bánh kẹo, rượu thuốc để đôi vợ chồng trẻ mang về nhà ngoại. Và cô dâu chú rể sẽ ở lại ăn cơm cùng bố mẹ vợ.
Lễ lại mặt vẫn là một trong lễ quan trọng thể hiện ý nghĩa như lời nhắc nhở đôi vợ chồng mới cưới về chữ hiếu không chỉ với nhà chồng mà cũng phải quan tâm, chăm sóc tới gia đình nhà vợ. Ngoài ra còn thể hiện sự chu đáo, quan tâm của gia đình nhà trai và chú rể với gia đình nhà gái, tạo sự gắn bó, thân mật giữa hai nhà. 

Đám cưới miệt vườn miền Tây Nam Bộ
 
Đặc trưng của tính cách Nam Bộ là sự phóng khoáng, hào sảng trong ứng xử cuộc sống. Vậy nên đám cưới Nam Bộ nhất là ở miệt vườn miền Tây luôn có không khí đầm ấm, thân tình và cũng không kém phần vui nhộn.
 
Không thể thiếu nghi lễ lên đèn
 
Ngày xưa, cuộc hôn nhân của người Nam Bộ thông thường phải trải qua 6 lễ gọi là lục lễ: lễ Giáp lời – hay lễ dạm, lễ Thông gia – đàng gái đáp lễ qua thăm nhà trai, lễ Cầu thân, lễ Đính hôn - hay lễ hỏi và cuối cùng là lễ Cưới chính thức. Ngày nay, với phong cách sống giản dị, hiện đại hơn, người miền Tây nhiều nơi chỉ còn giữ ba lễ chính là dạm ngõ, lễ hỏi và lễ cưới.
 
Lễ cưới hay còn gọi là đám cưới được chuẩn bị rất công phu. Lễ cưới được diễn ra ở cả hai nhà dâu, rê. Trước lễ cưới, người ta bắt đầu cho dựng rạp cưới. Rạp cưới thường được làm bằng tre, chuối và trang trí lá đủng đỉnh, tàu lá dừa, tàu lá dừa nước, hoa cau rất bắt mắt, trước rạp là cổng hoa. Nhà gái treo trên cổng hoa tấm bảng Vu Qui còn nhà trai là Tân Hôn. Đêm trước khi đưa dâu, gia đình cô dâu thường tề tựu đông đủ, gọi là họp gia đình, thống nhất của hồi môn cho cô dâu, dặn dò cô dâu trước khi xuất giá và chọn ra thành phần đàng gái đi đưa dâu. Thông thường buổi họp gia đình cô dâu rất nhộn nhịp nhưng cũng đầy tình cảm, xem như buổi cô dâu chia tay gia đình về nhà chồng. Trong buổi họp còn có món cháo vịt hay cháo gà để bà con ăn lấy sức ngày mai đưa dâu.

Cổng hoa thường được trang trí bằng lá dừa, lá dứa, lá đủng đỉnh

Về phần bên nhà chú rể cũng có buổi họp gia đình như vậy để thống nhất thành phần đoàn rước dâu và món cháo khuya cũng được ưa dùng, vừa để lót dạ lấy sức vừa để mọi người có dịp họp mặt chuyện trò, uống với nhau vài ly “đưa cay”.
Nếu nhà trai ở quá xa nhà gái thì thông thường cỗ cưới sẽ được bày ra ở cả hai nơi. Từ rất sớm, họ nhà trai sẽ cử một đoàn sang nhà gái để làm lễ rước dâu. Lễ rước dâu quan trọng nhất ở họ nhà gái phải có nghi thức lên đèn.

Nghi thức lên đèn là nghi thức không thể thiếu
Hai ngọn nến to, do đàng trai đem đến được đặt trên bàn thờ ông bà. Người trưởng tộc bèn khui một chai rượu, trong số hai chai do đàng trai đem đến. Ông đứng trước bàn thờ ngay chính giữa, cô dâu và chú rể đứng hai bên, im lặng. Hai ngọn đèn được đốt lên, từ ngọn lửa của cái đèn trứng vịt nhỏ của bàn thờ (hiểu là lửa hương hỏa). Hai ngọn đèn cháy từ từ, đặt sát nhau vì người làm lễ đang áp vào hai tay, như khấn vái. Khi lửa cháy đều ngọn, ông này từ từ giang cánh tay ra trao cho hai người trợ lý mỗi bên một ngọn để cắm vào chân đèn. Ngọn đèn phải cháy thong dong, đều đặn, nếu bên cao bên thấp thì sẽ có dư luận chàng rể sợ vợ, cô dâu sẽ lấn hiếp chồng. Ðề phòng nến tắt, nhiều người đóng cửa sổ thật kỹ, sợ gió tạt hoặc tạm thời tắt quạt máy. Ngày nay, đèn chế biến bằng hóa chất, không làm bằng sáp ong như xưa nên dễ tắt bất ngờ.
Đặc trưng đám cưới miền Tây: Rước dâu bằng đường thủy
Sau khi làm lễ lên đèn, coi như cô dâu đã xuất giá. Theo truyền thống thì gia đình miền Tây sẽ ăn cỗ bên nhà gái vào dịp lễ hỏi sau đó nhà trai sẽ đáp lễ trong lễ cưới, tuy nhiên ngày nay để cho giản tiện thì làm lễ lên đèn xong, nhà gái sẽ mời tiệc luôn. Nhà trai có thể lưu lại chờ hôm sau mới rước dâu về vì đường xa. Một nét đặc trưng cho đám cưới miệt vườn là nhà trai có thể rước dâu bằng đường thủy, trên ghe kết hoa, làm náo nhiệt cả một vùng sông nước. Khi cô dâu về nhà trai cũng sẽ diễn ra lễ bái gia tiên và sau đó là yến tiệc long trọng do đàng trai tổ chức. Nếu hai nhà ở gần nhau, nhà trai và nhà gái có thể thỏa thuận đãi cùng một nơi ở nhà trai cho giản tiện vì khách mời đa phần đều quen biết cả hai họ.

Miền Tây sông nước nên rước dâu cũng mang nét đặc trưng không ở đâu có
Tiệc cưới ở miền Tây thường không có giờ giấc nhất định, người ta chỉ nhớ ngày cưới. Sau khi đi làm đồng và các công việc nhà thì khách mới bắt đầu sang dự tiệc. Vậy nên đám cưới thường kéo dài nguyên một ngày, cứ xếp đủ 10 khách vào một bàn là bắt đầu lên tiệc. Người miền Tây rất chuộng ca hát nên trong đám cưới thường mướn một dàn nhạc để bà con, khách khứa giao lưu. Nhà nào khá giả thì mời được cả ca sĩ miệt vườn góp vui. Có nhiều khi đàn ca vọng cổ cũng góp mặt trong tiệc cưới.
Cỗ cưới cưới Nam Bộ thường có 5 món, đều làm từ những sản vật của địa phương. Đặc biệt, có những điều kiêng kị trong thực đơn tiệc cưới của người Nam bộ ngày xưa, mà bất cứ ai dù giàu sang dù bần hàn đều phải nhớ tránh: các món canh chua, canh đắng và món mắm. Dù miền Nam là nơi sản sinh ra các loại mắm cá đồng với những thứ chế biến từ mắm tuyệt ngon như mắm ruột, mắm kho và rau (ngày nay là lẩu mắm), nhưng không bao giờ mắm có trong thực đơn. Lý do đơn giản: ngày cưới người ta kỵ những thứ gì gợi lên đắng cay, chua chát và hôi hám (mắm dù ngon nhưng vẫn là món nặng mùi). Tương tự, cá lóc nướng trui dù là một trong những đặc sản, chỉ miền Nam mới có, nhưng cũng không bao giờ có mặt trong bữa tiệc, cưới hỏi, trong khi cá hấp thì có. Người ta kiêng bởi hình ảnh con cá nướng trui tượng trưng cho sự cháy xém đen đủi. Việc chuẩn bị cỗ cưới có thể do ở nhà tự làm hoặc đặt thợ nấu. Khi một nhà có tiệc thì hàng xóm xung quanh sẽ sang phụ giúp phục vụ cỗ cưới hay rửa chén, bày mâm mà không kể giờ giấc.
 

 
Rước dâu qua cầu khỉ là "đặc sản" trong đám cưới miền Tây
Người miền Tây cũng ưa uống rượu trong tiệc cưới và đã uống là uống hết mình, khách phương xa đến có thể phải uống với rất nhiều người để “chào sân”. Ly rượu thường được chuyền tay nhau dần dần, mỗi lần uống nửa ly gọi là “cưa đôi”. Ai muốn “cứu” hoặc uống sai “tụ” thì thường bị phạt “vào ba ra bảy” nghĩa là muốn vào vòng phải uống liền 3 ly, muốn rút khỏi vòng phải bị phạt liền 7 ly. Đây là một nét hào sảng của dân sông nước nhưng đôi khi vài thực khách quá say gây ra chút rắc rối cho gia chủ.
Đám cưới miền Tây có thể xem là một ngày hội thật sự cho người dân trong thôn xóm. Nhà nào cỗ cưới càng lớn, người dự càng đông thì không chỉ chứng tỏ được vai vế của mình ở địa phương mà còn cho thấy thường ngày họ ứng xử rất chân tình, đẹp đẽ với bà con xóm giềng. Chỉ một lần tham dự đám cưới miệt vườn, bạn chắc chắn sẽ nhớ mãi. 

 

TÌM KIẾM

Để tìm kiếm bạn cần gõ tên chú rể hoặc cô dâu
VD: Thanh

THỐNG KÊ

Đang online : 1

Tổng lượt truy cập : 8

banner quảng cáo
banner quảng cáo
banner quảng cáo
 Nhà Hàng Tiệc Cưới MD STAR
 76 Lưu Chí Hiếu (D9 cũ), P.Tây Thạnh, Q.Tân Phú, TP.HCM  

                                                                                                   Điện thoại: (028). 62 99 44 88
                                                                                                   Hotline: 0966.292.458 Mrs Trang

                                                                                                   Email:
nhahangmdstar@gmail.com
                                                                                                   Website:
www.tieccuoimdstar.com

                                                                                                                    Facebook:
Facebook.com/salesmdstar